Trang chủ Tin tức Tuyên truyền, phổ biến GDPL

Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của QH khóa XIV và Nghị định số 84/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Giáo dục
(Ngày đăng :06/08/2020 12:00:00 SA)


(laichau.gov.vn) Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội khóa XIV gồm 9 chương, 115 điều thay thế Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009. 

So với Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật Giáo dục năm 2019 có một số điểm mới cơ bản sau đây:

1.Tại Điều 99 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, học phí, chi phí của dịch vụ giáo dục được quy định cụ thể như sau:

“3. Học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục công lập không phải đóng học phí; ở địa bàn không đủ trường công lập, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí, mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

4. Trẻ em mầm non 05 tuổi ở thôn, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo được miễn học phí.

5. Trẻ em mầm non 05 tuổi không thuộc đối tượng quy định tại khoản 4 Điều này và học sinh trung học cơ sở được miễn học phí theo lộ trình do Chính phủ quy định.”

2. Tại khoản 3, điều 34 của Luật Giáo dục 2019 quy định:

“3. Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi, đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ quan chuyên môn về giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông đủ điều kiện dự thi theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng nhà trường cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng tốt nghiệp THPT khi người học có nhu cầu hoặc để theo học giáo dục nghề nghiệp và sử dụng trong trường hợp khác.”

Như vậy, đã có sự phân biệt giữa công nhận hoàn thành chương trình THPT và bằng tốt nghiệp THPT: Công nhận hoàn thành chương trình THPT do Hiệu trưởng cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông, còn bằng tốt nghiệp THPT thì được người đứng đầu cơ quan chuyên môn về giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

3. Tại khoản 4, điều 85, của Luật Giáo dục quy định:

“4. Học sinh, sinh viên sư phạm được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học. Người được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt sau 02 năm kể từ khi tốt nghiệp nếu không công tác trong ngành giáo dục hoặc công tác không đủ thời gian quy định thì phải bồi hoàn khoản kinh phí mà Nhà nước đã hỗ trợ. Thời hạn hoàn trả tối đa bằng thời gian đào tạo. Học sinh, sinh viên sư phạm được hưởng các chính sách học bổng khuyến khích học tập, trợ cấp xã hội, miễn, giảm học phí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”

Như vậy tốt nghiệp sư phạm không làm đúng ngành phải hoàn trả học phí. Quy định này nhằm khắc phục những hạn chế của chính sách không phải đóng học phí của học sinh, sinh viên sư phạm quy định tại Luật Giáo dục hiện hành, như: Học sinh, sinh viên sư phạm ra trường không làm đúng ngành giáo dục, dẫn đến chính sách hỗ trợ của nhà nước không hiệu quả;…

4. Tại Điều 72 của Luật giáo dục năm 2019 quy định cụ thể trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo nâng cao hơn so quy định Luật Giáo dục năm 2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009: Trình độ đào tạo của giáo viên mầm non từ trung cấp sư phạm lên cao đẳng sư phạm, giáo viên tiểu học từ trung cấp sư phạm lên cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên, giáo viên Trung học cơ sở từ cao đẳng sư phạm lên cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên. Trường hợp môn học chưa đủ giáo viên có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên thì phải có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Nhà giáo giảng dạy trình độ đại học từ đại học lên thạc sĩ. Để bảo đảm tính khả thi, không làm xáo trộn, ảnh hưởng đến công tác tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục, bảo đảm chất lượng đào tạo và yêu cầu nghề nghiệp, Luật Giáo dục đã giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.

5. Tại khoản 1, Điều 32 về sách giáo khoa quy định cụ thể như sau:

 “a) Sách giáo khoa triển khai chương trình giáo dục phổ thông, cụ thể hóa yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông về mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh; định hướng về phương pháp giảng dạy và cách thức kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; nội dung và hình thức sách giáo khoa không mang định kiến dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi và địa vị xã hội; sách giáo khoa thể hiện dưới dạng sách in, sách chữ nổi Braille, sách điện tử;

  b) Mỗi môn học có một hoặc một số sách giáo khoa; thực hiện xã hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa; việc xuất bản sách giáo khoa thực hiện theo quy định của pháp luật;

  c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc lựa chọn sách giáo khoa sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

 d) Tài liệu giáo dục địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức biên soạn đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương, được hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định và Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.”

Điểm mới thể hiện tính linh hoạt và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục. Đồng thời mở ra cơ hội thông thoáng cho các chuyên gia giáo dục, những người có năng lực và tâm huyết đối với giáo dục thực hiện biên soạn các bộ sách giáo khoa khác nhau, tạo cơ hội cho người học có nhiều kênh lựa chọn, tham khảo đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục trong việc thẩm định, phê duyệt, áp dụng tại địa phương, cơ sở mình quản lý.

6. Tại Điều 87. “Chế độ cử tuyển” quy định:

“1. Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào trung cấp, cao đẳng, đại học theo chế độ cử tuyển đối với học sinh là người dân tộc thiểu số rất ít người; học sinh là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số; có chính sách tạo nguồn cử tuyển, tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu của địa phương đề xuất, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển; cử người đi học theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu được duyệt; xét tuyển và bố trí việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp. Cơ sở giáo dục có trách nhiệm hỗ trợ cho người học theo chế độ cử tuyển để bảo đảm chất lượng đầu ra.

3. Người học theo chế độ cử tuyển có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học; được xét tuyển và bố trí việc làm.

4. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chuẩn và đối tượng được hưởng chế độ cử tuyển; việc tổ chức thực hiện chế độ cử tuyển và việc tuyển dụng người học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp.”

Như vậy theo Luật giáo dục mới thì sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp sẽ được bố trí việc làm thông qua hình thức xét tuyển. Đặc biệt quy định rõ “người theo học chế độ cử tuyển phải có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học”.

7. Tại khoản 1, Điều 109 quy định cụ thể 3 trường hợp công nhận văn bằng nước ngoài:

a) Văn bằng do cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài cấp cho người học sau khi hoàn thành chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng theo quy định của nước cấp bằng và được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước đó công nhận;

b) Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại nước khác nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính cấp cho người học, được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của 02 nước cho phép mở phân hiệu hoặc thực hiện hợp tác, liên kết đào tạo và đáp ứng quy định tại điểm a khoản này;

c) Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam cấp, thực hiện hoạt động giáo dục theo quy định về hợp tác, đầu tư về giáo dục do Chính phủ ban hành, theo phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền và đáp ứng quy định tại điểm a khoản này.”

Nội dung chi tiết của Luật Giáo dục năm 2019 và Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục được đăng tải tại đây:

Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc Hội;

Nghị định số 84/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ.

Phòng Nghiệp vụ 4

,

Tin liên quan

Nghị định số 23/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý khai thác cát, sỏi và bảo vệ lòng, bờ bãi sông (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020).(25/09/2020 4:23:24 CH)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021)(25/09/2020 11:15:45 SA)

Một số điểm mới của Nghị định 107/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh(21/09/2020 11:12:23 SA)

Nghị định số 55/2020/NĐ-CP ngày 22/5/2020 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án đối với pháp nhân thương mại (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2020).(01/09/2020 3:10:34 CH)

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2020).(01/09/2020 3:05:13 CH)

Tin mới nhất

Nghị định số 23/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý khai thác cát, sỏi và bảo vệ lòng, bờ bãi sông (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020).(25/09/2020 4:23:24 CH)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021)(25/09/2020 11:15:45 SA)

Quy trình nội bộ giải quyết từng thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý, giải quyết của Thanh tra tỉnh Lai Châu (25/09/2020 10:30:10 SA)

Một số điểm mới của Nghị định 107/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh(21/09/2020 11:12:23 SA)

Tham gia ý kiến vào dự thảo Thông tư thay thế thông tư số 03/2013/TT-TTCP(18/09/2020 4:45:37 CH)

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THANH TRA TỈNH
Cơ quan chủ quản:             
Chịu trách nhiệm chính:
Trụ sở:
Điện thoại:
Email:
Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu
Bà Võ Thị Thiệp - Chánh Thanh tra tỉnh

Tầng 4 nhà D - khu Hành chính - Chính trị tỉnh

0231.3798.929                  
thanhtratinh-laichau@chinhphu.vn

Ghi rõ nguồn thanhtra.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này